Book, IT

Giới thiệu sách: Peopleware – Sách hay nên đọc dành cho các nhà quản lý CNTT

Giới thiệu

Pepleware của Tom DeMarco, Timothy Lister • 1987, 2014 • ISBN 978-0-321-93411-6 được đánh giá là một trong những cuốn sách MUST READ dành cho dân IT, đặc biệt là các nhà quản lý. Lúc còn là một lính mới, mình cũng đã lục lọi và đọc thử, nhưng lúc đó, một phần do trình chưa có nên đọc cũng không thấm được bao nhiêu, phần nữa là sách sử dụng ngôn ngữ “cổ” của thập niên 80, nên cũng rất là khó nhằn T.T. Gần đây mình quyết định đọc lại, và may mắn thay, thay vì phải đọc từ A-Z thì trên mạng đã có 1 số nguồn họ tóm tắt lại và mình chỉ việc đọc và nắm ý thôi cho lẹ.

Một điểm mà mình rất khâm phục ở cuốn sách này là tuy nó được viết từ cách đây 30 năm, nhưng giá trị của nó vẫn trường tồn đến ngày nay.

Ai nên đọc

nếu bạn đang có ý định lên làm quản lý hoặc đã là quản lý thì sẽ get được nhiều value nhất. Các bạn dev cũng có thể đọc để nâng cao lý luận và có 1 cái nhìn trước về sự quản lý.

  • Quản lý nguồn nhân lực (Managing the Human Resource
  • Môi trường văn phòng(The Office Environment)
  • Đúng người (The Right People)
  • Nâng cao năng suất của đội ngũ (Growing Productive Teams)
  • Đất màu mỡ (Fertile Soil) 😀
  • Nó được cho là vui vẻ để làm việc ở đây (It’s Supposed to Be Fun to Work Here)

Đọc ở đâu

Do tính chất ngôn từ “khó hiểu” (chắc do mình gà), và bạn nào cũng giống mình thì mình suggest là cứ đoạn nào khó hiểu thì switch giữa Anh – Việt để đọc cho lẹ 🙂

Read more

Ngoài ra, một số cuốn sách hay mà mình đã đọc đến lúc này để có thể nâng cao năng lực quản lý của mình:

Book, Leadership, Tản mạn

Review sách: Thói quen thứ 8

Đã rất lâu rồi mới có thời gian để review 1 cuốn sách. Thật ra mình cũng chưa có hứng để viết lắm, mà thôi nhân lúc đang rảnh thì viết luôn chứ đợi khi có hứng thì lại không có thời gian (bận rộn cơm áo gạo tiền quá mà).

Hôm nay mình sẽ nói về cuốn Thói quen thứ 8 của Stephen R.Covey.

Nếu đọc các cảm nhận trên mạng thì sẽ có rất nhiều nơi tóm tắt ý đồ của cuốn sách như sau: “Thói quen thứ 8 là tìm ra tiếng nói của bản thân và giúp đỡ người khác tìm ra tiếng nói của họ, để từ đó chúng ta cùng phát triển trong Thời đại Thông tin, thời kỳ mà sự phụ thuộc lẫn nhau còn quan trọng hơn cả sự độc lập.

Thật ra khi đọc xong cuốn sách thì tôi vẫn không thể nắm hết được ý nghĩa của nó. Tuy nhiên, mỗi người khi tìm đọc một cuốn sách nào đó thì họ đang đi tìm kiếm câu trả lời cho một vấn đề nào đó mà họ đang băn khoăn tìm lời giải đáp. Và tôi cũng không ngoại lệ, tôi tiếp cận cuốn sách này dưới góc độ nâng cao nhận thức về quản lý. Quản lý bản thân, quản lý cấp dưới và làm việc với cấp trên.

Dưới đây là 1 số trích dẫn, hình ảnh từ cuốn sách, mục đích là để gợi nhớ. Bạn nào chưa đọc thì nên đọc và hãy làm cho riêng mình 1 bản ghi chú dựa trên cảm nhận của bản thân thì sẽ hiệu quả hơn : )

Tổng quan về 8 thói quen

tqt8-1

Mô thức

Bắt đầu từ bên trong.

https://trinhdinhlinh.com/sach/7-thoi-quen-de-thanh-dat/mo-thuc-va-nguyen-tac/

Tầm nhìn, kỷ luật, đam mê và lương tâm

Lãnh đạo là khả năng biến tầm nhìn thành hiện thực.

WARREN BENNIS

tqt8-2

Các nhà lãnh đạo hàng đầu đều có tầm nhìn, óc thực tiễn, đạo đức và lòng dũng cảm. Đây chính là bốn năng lực, bốn hình thức của sự nhận thức, là ngôn ngữ giao tiếp cần có để đạt được những kết quả lâu dài và có ý nghĩa.

Nhà lãnh đạo có tầm nhìn là người luôn biết tư duy lớn, tư duy cái mới và tư duy đột phá. Và, điều quan trọng hơn hết là họ biết giữ mối liên hệ với cấu trúc sâu rộng về nhận thức và tiềm năng sáng tạo của con người.

PETER KOESTENBAUM, Nhà triết học về quản trị

Tầm nhìn là khả năng nhìn thấy trước những gì có thể xảy ra trong công việc, sự nghiệp và trong tổ chức bằng đôi mắt của trí tuệ. Tầm nhìn có được khi chúng ta dùng trí tuệ để đưa ra khả năng đáp ứng nhu cầu. William Blake nói rằng: “Những gì hôm nay được chứng minh là đúng thì trước đó chỉ là sự tưởng tượng”. Khi một người không có tầm nhìn và không quan tâm đến việc phát triển khả năng sáng tạo của trí tuệ, họ sẽ trở thành con mồi trên con đường đi đến chủ nghĩa nạn nhân.

Tính kỷ luật là cái giá phải trả để đưa tầm nhìn đi vào thực tiễn. Đây là phần liên quan đến những thực tế khó khăn, hiển nhiên và đôi khi thật tàn nhẫn, nhưng cần phải có để biến tầm nhìn thành sự thật. Kỷ luật xuất hiện khi tầm nhìn kết hợp với sự cam kết. Đối nghịch với tính kỷ luật và sự cam kết là sự buông thả – tức sự đánh đổi những điều quan trọng nhất của cuộc sống để hưởng những thú vui hay khoái lạc nhất thời.

Sự đam mê là ngọn lửa, là sự khao khát, là sức mạnh của lòng quyết tâm, là động lực để duy trì tính kỷ luật nhằm thực hiện tầm nhìn. Sự đam mê xuất hiện khi nhu cầu của con người trùng khớp với tài năng độc nhất vô nhị của riêng họ. Khi một người không có sự đam mê trong việc đi tìm và sử dụng tiếng nói của bản thân nhằm phụng sự những mục đích cao quý, thì khoảng trống trong tâm hồn họ sẽ đầy rẫy những cảm giác không an toàn và những tiếng nói trống rỗng theo khuôn mẫu xã hội. Trong mối quan hệ và trong các tổ chức, xét theo một khía cạnh nào đó thì sự đam mê bao gồm cả lòng trắc ẩn.

Lương tâm là nhận thức nội tâm về đạo đức để phân biệt đâu là đúng và đâu là sai, là động lực để con người hướng đến ý nghĩa cuộc sống và sự cống hiến vì mục đích cao đẹp. Lương tâm là sức mạnh dẫn đường cho tầm nhìn, tính kỷ luật và sự đam mê. Lương tâm tương phản với cái tôi ích kỷ thường ngự trị trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

Đang tính viết tiếp mấy phần sau thì chợt nhớ ra đã có người viết rất kỹ về các phần này nên thôi quyết định trích dẫn link để mọi người cùng đọc qua. (P/s: anh này có nhiều bài viết rất hay về kỹ năng sống, các bạn nên đọc thêm tại https://chienluocsong.com)

Bốn nhu cầu của con người.

https://chienluocsong.com/sachthoi-quen-thu-8-p1-bon-nhu-cau-cua-con-nguoi/

Bốn năng lực của con người:

https://chienluocsong.com/sachthoi-quen-thu-8-p2-bon-nang-luc-cua-con-nguoi/

Lãnh đạo và quản lý

https://chienluocsong.com/sachthoi-quen-thu-8-p3-lanh-dao-va-quan-ly/

Chủ động và trao quyền (MUST READ)

https://chienluocsong.com/sachthoi-quen-thu-8-p4-chu-dong-va-trao-quyen/

Vai trò của lãnh đạo

https://chienluocsong.com/sachthoi-quen-thu-8-p5-4-vai-tro-cua-lanh-dao/

Book, Tản mạn

Book Review: Việt Nam Phong Tục – Phan Kế Bính

Việt Nam Phong Tục – Phan Kế Bính. Xuất bản năm: 1915

Đã hơn 100 năm kể từ ngày cuốn sách được xuất bản. Mang trong mình thứ ngôn ngữ của người xưa, rất nhiều từ ngữ đến ngày nay đã không còn thấy dùng, ấy vậy mà giờ đọc lại vẫn thấy sao đúng quá chừng, tiến bộ quá chừng. Vậy mới thấy thời đó mà đã có nhiều người mang trong mình tư tưởng tiến bộ, muốn mang văn minh nhân loại vào để khai sáng nhân dân, cách tân đất nước. Đáng kể đến như là Phan Bội Châu với phong trào Đông Du, Lương Văn Can với Đông Kinh Nghĩa Thục. Tuy nhiên bọn giặc xâm lược đâu dễ dàng để dân ta văn minh lên được, chúng nhanh tay đàn áp các phong trào tân học trong cả nước.

Ấy là thời giặc ngoại xâm, dân ta chìm trong ngu trí. Vậy mà thời buổi hòa bình như ngày nay, cái gì đang cản bước dân tộc ta tiếp cận với các tiến bộ nhân loại? Thật khó để có câu trả lời xác đáng, nhưng cũng xin đưa ra vài luận điểm để mọi người cùng nhìn nhận và xem xét:
1. Đó là lối tư duy theo văn hóa Á Đông, vĩ hòa di quý, không dám dấn thân, sợ thất bại, ngại học hỏi, để cao lý thuyết, lãng quên thực hành.
2. 1000 Bắc Thuộc, hơn trăm năm đế quốc ngoại xâm đã tàn phá toàn bộ nền văn minh nước nhà, những điều hay thì bị phá bỏ, chỉ còn lại đó là những hủ tục khiến dân chúng đi vào vũng lầy của sự lạc hậu, mê tín. Vậy thì làm sao mà vực dậy được.

18620346_1381535138579619_4931921106726412417_n

Là một người xuất thân từ nền giáo dục khoa cử Nho học nhưng không chọn quan trường làm con đường tiến thân, Phan Kế Bính lại sớm tiếp thu những tư tưởng tiến bộ và đi theo con đường làm báo, dịch thuật, biên khảo,… Đồng thời, ông cũng là một người có quan điểm đổi mới mạnh mẽ và công khai hưởng ứng Cuộc vận động Duy Tân thời bấy giờ.

Được hoàn thành vào năm 1915, Việt Nam phong tục là trước tác mang đậm tinh thần duy tân của Phan Kế Bính đồng thời cũng là công trình nổi bật nhất trong toàn bộ sự nghiệp của ông.

Ngay trong lời mở đầu, Phan Kế Bính đã trình bày một cách rõ ràng quan điểm cũng như mục đích của mình khi thực hiện cuốn sách, đó là “kê cứu cho biết cái nguyên ủy những cái phong tục của mình, và xem những tục mới có điều gì nên theo, thì bàn tham bác vào để chờ có khi mà thay đổi được chăng.”

Và cũng từ quan điểm đó, xuyên suốt tác phẩm, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy một sự phản biện mạnh mẽ, thẳng thắn và đôi lúc vô cùng cứng rắn của ông đối với những phong tục nhưng cũng là những điều “mắt trông thấy tai nghe tiếng” trong nội tại xã hội Việt Nam thời bấy giờ.

Sẽ là không chính xác nếu nói Việt Nam phong tục là một tác phẩm hoàn hảo trong lĩnh vực nghiên cứu và phản biện về văn hóa, xã hội và phong tục Việt Nam. Vẫn có những sai sót nhất định trong việc cung cấp thông tin và ở một số vấn đề, bản thân tác giả cũng không tránh khỏi sự phiến diện và cực đoan trong phê phán.

Bất cứ một xã hội nào cũng đều có những thuộc tính, những biểu trưng riêng biệt mà theo thời gian, cùng với những biến động của thời cuộc và quy luật đào thải khắc nghiệt sẽ trở thành giá trị vĩnh cửu. Khi đặt bút viết nên Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính đồng thời cũng mang trong mình mong muốn đưa ra những gợi ý cụ thể cho việc lựa chọn đào thải hay bảo lưu lại những phong tục, tập quán của dân tộc.

Việc lựa chọn ấy chắc chắn phải dựa trên sự phát triển của đời sống xã hội cũng như cấu trúc của nền kinh tế. Một khi xã hội phát triển theo hướng hiện đại và tiến bộ hơn, những gì đã trở nên không còn phù hợp sẽ tự động bị đào thải. Tuy nhiên, cũng không tránh khỏi việc sai lệch trong nhận thức về văn hóa cha ông của các thế hệ sau dẫn đến sự chối bỏ cả những giá trị cao đẹp cần được gìn giữ và phát triển.

Chính vì vậy, việc cân nhắc loại bỏ hay bảo lưu những giá trị cũ để làm nền tảng cho văn hóa dân tộc trong quá trình phát triển là một việc cần thiết hơn bao giờ hết. Thậm chí, ngay cả việc thay đổi những lề thói đã lỗi thời cũng cần đến một quá trình lâu dài.

Ngay từ đầu thế kỷ trước, Phan Kế Bính cũng đã ý thức được rất rõ điều này: “…cái tục cũ đã truyền nhiễm lâu, không dễ mà một mai đổi ngay được. Muốn đổi thì phải lựa dần dần, trước hết phải xét điều gì quá tệ mà bỏ bớt đi, rồi lâu lâu mới đem cái tục hay mà bổ hết cho các tục dở.” Và ông cũng không quên lưu ý rằng “tục gì hay mà là quốc túy của ta thì cứ giữ lấy”.

Vậy đâu là quốc túy của chúng ta? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta không thể làm gì khác hơn là phải dụng công tìm tòi, suy ngẫm lại trong suốt sự phát triển và biến đổi trong đời sống dân tộc theo dòng chảy của lịch sử với địa vị của một công dân. Công dân của một quốc gia và công dân toàn cầu.

P/S: Bài viết có sưu tầm các ý kiến từ nguồn khác
Khuyến khích mọi người nên tìm sách giấy để đọc, ebook phần lớn là ấn bản cũ và đã bị lược bỏ chỉnh sửa bớt.

Book, Design Pattern, TDD

Book Review: xUnit Test Patterns: Refactoring Test Code: Gerard Meszaros

Khi đối diện với những điều không (chưa) biết, kẻ bi quan sẽ tỏ ra lo sợ và trốn chạy, người lạc quan thì không như vậy, họ luôn biết cách đối mặt với nó.

Vào những năm cuối thập niên 90, khi phong trào eXtreme Programming mới bắt đầu được khai nén, đã có những nhóm, những nhà tiên phong đi đầu trong việc áp dụng các kỹ thuật của nó như pair programming, collective ownership và test driven development. Tuy nhiên, họ đã gặp phải rất nhiều vấn đề trong đó, ví dụ như là làm thế nào để apply TDD, viết và quản lý test code cho real-world project. Khi production code lẫn test code bắt đầu phình ra cũng là lúc họ nhận ra rằng ngày càng tốn nhiều effort chỉ để làm những công việc lặp đi lặp lại. Đã có lúc, đến 90% effort bỏ ra chỉ cho việc maintenance những unit test cases đã có chỉ để đáp ứng một thay đổi cực kỳ minor. Một con số thật sự làm nản lòng và gây hoang mang dù là những người lạc quan nhất. Và họ biết, họ cần phải làm gì đó để thay đổi điều đó.

3394674118_28fd307467

TDD, kẻ thì khen, người thì chê. Kẻ khen thì trầm trồ về sự ưu việt của nó, kẻ chê thì nói TDD thực sự chỉ là 1 thứ rối rắm, tốn nhiều công lắm của mà không thực sự giải quyết được bài toán mà họ gặp phải. Nhưng có mấy kẻ hiểu được làm TDD như thế nào cho effective. Khi đối diện với một dự án phức tạp, vấn đề gây đau đầu nhất trong mỗi lần thay đổi source code chính là degradation, làm sao để analyze và thực hiện regression test để bảo đảm code change là “vô hại” đến những phần khác. Những lúc như vậy, ai cũng mong có một bộ automated test để phòng thân, nhưng cái giá của nó không phải là free, hoặc có thể là vô giá.

Prorgramming is hard, hay nói cách khác, tạo ra những đoạn code trong sáng, dễ maintain và extend là không dễ. Trừ khi ta nắm được các bí quyết để làm chuyện đó. Bằng cách nhận biết đâu là những đoạn code tệ (code smell), hay mở rộng ra là project smell, architecture smell, environment smell, ta sẽ biết cách để sửa chữa chúng. Refactoring những chỗ không tốt thành tốt hơn đòi hỏi những kỹ thuật cao hơn như nắm vững các coding, design principle, patterns. Khi đó, code sẽ trở nên sáng sủa và vững vàng hơn nhiều, programming is now easy and much more exciting, like a joy!! ^^

Testing is extremely hard, vì trường học không (kịp) dạy ta các kỹ năng về kiểm thử. Programmer thích lập trình, sợ bugs, ghét tester… nên đâm ra ghét testing. Đặc biệt không có anh nào code dở mà có thể test (unit, at least) giỏi, mấy người như vậy qua làm tester hết rồi. Còn lại những anh code dở và test cũng dở, và những anh code vốn giỏi mà test dở. (Chỗ này hại não =)) Với những anh code giỏi thì khả năng để improve kỹ thuật testing là tương đối dễ dàng, những anh khác, vui lòng quay lên phần “Programming is hard”.

Để make (Unit) Testing more fun and do-able, việc đầu tiên chính là phải code giỏi cái đã. “Code that hard to test is the bad code”. Vậy làm sao để nhận diện đâu là code tệ? Đa phần đã nghe đến code smell, vậy còn test smell. Sử dụng test smell để nhận diện các vấn đề gây khó khăn cho việc viết test là bước đầu tiên. Test smell có thể bao hàm rất nhiều thứ kể cả code smell. Bên cạnh đó, cũng giống như programming, testing cũng có principle và pattern của nó. Nói chung, mọi thứ đều có nguyên tắc, tuân thủ theo luật lệ sẽ cho ra các sản phẩm unit-test chất lượng.

Nếu ai đủ kiên nhẫn đọc đến đây thì sẽ thắc mắc, viết dông dài vậy làm gì. Ah, tất nhiên là mình giới thiệu sách rồi (thực ra là khoe cuốn sách mới mua, mới đọc được có cái (hard)cover và cái preface đã bay lên chém gió như thần).

Tên cuốn sách
xUnit Test Patterns: Refactoring Test Code: Gerard Meszaros

Mục đích cuốn sách:
– Giải tỏa nỗi sợ về (automated) (unit) testing. Là nguồn cảm hứng và chỗ dựa (kỹ thuật) vô cùng bổ ích cho những ai đã, đang và sẽ có dự định improve productivity throuhg testing. Cuốn sách đề cập đến các kỹ thuật develop automated unit test case, các test smell để giúp programmer tránh các lỗi thường gặp lúc viết production code và test code + các cách refactoring chúng. Test principle là kim chỉ nam cho việc viết test, test design patterns là các practices áp dụng cho từng trường hợp cụ thể.
– Nếu xem GoF là kinh thánh cho dân Production Code thì xUnit Test Patterns này là dành cho Test Code.

For fun:
– (Khoe) Sách gốc hardcover $79.99. Dày 900 trang, nặng gãy tay :)))
– Người review trên tinh thần chém gió là chính chứ mới đọc được cái cover thôi =))
– Chỉ có cuốn sách trong hình là thật
– Link ebook cho dân không đủ điều kiện: google nhé 😉

Book

ĐỌC THẾ GIỚI PHẲNG CỦA THOMAS FRIEDMAN

Phần I : Bạn có ngạc nhiên không : Thế giới bây giờ là phẳng ! Cách đây nhiều ngàn năm , thế giới này của chúng ta được loài người nhận thức như là phẳng . Một thế giới phẳng rộng lớn mà con người không bao giờ đi đến được chân trời giới hạn của nó. Người Trung quốc nói đến khái niệm trời tròn đất vuông và nhà toán học vĩ đại Euclide của Hy Lạp vào thế kỷ thứ tư trước Công nguyên đã đưa ra năm định đề xây dựng nên một nền hình học phẳng mà ngày nay chúng ta vẫn còn học. Nhưng đến thế kỷ 16 , Copernic và Galileo đã chứng minh quả đất có hình cầu và chuyển động quanh trục của nó cũng như xoay quanh mặt trời . Nhận thức con người về một thế giới phẳng đã chấm dứt .Hình học phẳng chỉ có thể áp dụng cho không gian Euclide , mà một không gian chỉ có thể được xem là phẳng khi nó ở cấp độ cực nhỏ . Bây giờ , nền vật lý hiện đại đang nói tới khái niệm không gian đa chiều . Một thế giới phẳng là không tồn tại.

Nhưng vào đầu thế kỷ 21 này, Thomas Friedman, một nhà báo và là một nhà kinh tế học người Mỹ , bằng những chứng minh thực tiễn và đầy sinh động, đã thuyết phục chúng ta tin vào sự tồn tại của một thế giới phẳng mới , một thế giới phẳng về mặt kinh tế, hay đúng ra, đang được san phẳng vì đang được biến thành siêu nhỏ . Ông phát biểu sự “ đại ngộ “của mình trước hết bằng lời thì thầm với vợ qua điện thoại “ Anh nghỉ thế giới này là phẳng “ ( khác với Archimède vừa chạy vừa la“ Eureka “ trên phố khi tìm ra lời giải cho một phép cân hóc búa ), Phát hiện này của Friedman xảy ra sau khi ông gặp gỡ Nandan Nilekani , một người Anh , chủ tịch tập đoàn công nghệ Infosys nổi tiếng và nghe ông này nói : “Sân chơi đang trở nên công bằng “. Một sân chơi đang trở nên công bằng, Friedman chợt nghỉ, chính là một sân chơi đang được san phẳng . Và nếu sân chơi đó là thế giới , thế giới đó đang được làm phẳng . Một thế giới nếu đang được làm phẳng bởi nhiều nhân tố do con người liên tục tạo ra, kết quả cuối cùng đạt được chắc chắn sẽ là một thế giới phẳng ! Friedman nhận định rằng hệ thống thế giới phẳng là sản phẩm của sự hội tụ giữa máy tính cá nhân (cho phép các cá nhân trở thành tác giả của sản phẩm số ) với cáp quang ( cho phép các cá nhân tiếp cận với các sản phẩm số trên thế giới gần như miễn phí ) và phần mềm xử lý công việc( cho phép các cá nhân trên khắp thế giới công tác trên cùng cơ sở dữ liệu số , bất kể từ nơi đâu với khoảng cách như thế nào ). Sự hội tụ đó , theo ông , chỉ mới vừa diễn ra, vào khoảng năm 2000.

Friedman cho rằng có đến mười nhân tố làm phẳng thế giới . Nhưng thật ra chỉ có ba nhân tố ông phân tích đầu tiên mới thực sự là các nhân tố cơ bản, các nhân tố khác chỉ là những tác nhân nối tiếp tiến trình làm phẳng thế giới đã được khởi động bởi ba nhân tố đầu tiên . Thứ nhất là điều mà Friedman cho là một kỷ nguyên sáng tạo mới , bắt đầu với sự sụp đổ các bức tường chính trị của thời kỳ Chiến tranh Lạnh và sự xuất hiện mang tính chất toàn cầu của phần mềm Windows của Microsoft . Nhân tố này làm cho các xã hội trở nên phẳng hơn, và Friedman xác định :” Sân chơi sẽ không công bằng nếu chỉ thu hút và trao đặc quyền cho một nhóm gồm những người sáng tạo, nhưng nó hoàn toàn công bằng vì đang thu hút và trao đặc quyền cho cả những người đàn ông và đàn bà giận dữ, căm phẫn và bị làm nhục “.

Nhân tố thứ hai dẫn đến sự làm phẳng thế giới được Friedman gọi là “kỷ nguyên kết nối mới “xuất hiện với sự phổ cập rộng rãi không kém của mạng toàn cầu (world wide web ) và sự ra đời vĩ đại của Internet . Mọi người ở bất cứ ngõ ngách nào trên toàn thế giới , trên nguyên tắc đều có thể truy cập vào mạng một cách dễ dàng . Điều đó đã đặt nền móng cho một sự cộng tác toàn cầu của các cá nhân trên các lãnh vực công nghệ, thương mại, cung cấp dịch vụ, trao đổi và tiếp cận thông tin , hợp tác sản xuất , kinh doanh với một phí tỗn ngày càng thấp .

Nhân tố thứ ba là sự ra đời và ứng dụng rộng rãi của phần mềm xử lý công việc. Friedman cho rằng đây thực sự là một cuộc cách mạng . Ông nói “ Cuộc cách mạng này cho phép nhiều người hơn từ nhiều nơi hơn tham gia vào thiết kế, trưng bày, quản lý và tiếp cận dữ liệu kinh doanh mà trước đây chỉ có thể xử lý thủ công.Nhờ đó, công việc bắt đầu lưu thông dễ dàng trong các công ty và giữa các công ty với nhau, giữa các lục địa với nhau ở mức độ chưa từng thấy. “

Ba nhân tố cơ bản này đã làm nảy sinh thêm các tác nhân làm phẳng khác mà Friedman gọi là các hình thức cộng tác mới đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu , mọi người ở mọi quốc gia đều đang tham gia vào sự cộng tác đó một cách tích cực tuy ở các cấp độ khác nhau . Đó là các hoạt động tãi lên mạng ( uploading ), , thuê làm bên ngoài ( outsourcing ) , chuyển sản xuất ra nước ngoài ( offshoring ), chuỗi cung ( supply-chaining ), thuê bên ngoài làm ( insourcing ) và cung cấp thông tin ( in-forming ) . Những hoạt động này đang góp phần làm phẳng thế giới một cách liên tục và đều đặn.

Ông nêu lên những thí dụ điển hình : Những chuyên gia kế toán ở An Độ đang cung cấp dịch vụ khai thuế theo hình thức thuê làm bên ngoài cho các doanh nghiệp Mỹ với giá rẽ hơn và với một khối lượng công việc đang gia tăng theo cấp số nhân. Năm 2003, chỉ có khoảng 25.000 tờ khai thuế ở Mỹ được thực hiện tại An Độ. Đến năm 2005, con số này là 400.000 và đang tiếp tục tăng . Trong khi đó , tại vùng duyên hải phía đông Trung Quốc , một thành phố đang cung cấp hầu hết các gọng kính mắt trên thế giới , gần đó một thành phố đang sản xuất hầu hết các đầu lọc thuốc lá dùng một lần trên thế giới và thành phố kế bên sản xuất hầu hết các màn hình của máy tính cho hãng Dell. Chỉ riêng ở khu vực đồng bằng Chu Giang phía bắc Hồng Kông, đã có đên 50.000 nhà cung cấp phụ tùng điện tử cho thị trường Trung Quốc và thế giới. Đó là một số trong vô số bằng chứng khác cho thấy tác động làm phẳng thế giới của chỉ riêng hai hoạt động thuê làm bên ngoài và chuyển sản xúât ra nước ngoài đang diễn ra tại An Độ và Trung Quốc, hai quốc gia đông dân nhất thế giới . Hai nước này, bằng những chính sách thích nghi đúng đắn của họ với tiến trình làm phẳng thế giới , đang tranh thủ được những lợi ích to lớn . Họ đang lớn mạnh và sẽ trở thành một thách thức cho các nước công nghiệp hàng đầu như Mỹ . Một quan chức ngân hàng Trung Ương Trung Quốc đã không ngần ngại thừa nhận “ Thoạt tiên chúng tôi sợ sói, rồi chúng tôi muốn nhảy múa với sói, và bây giờ chúng tôi muốn trở thành sói”. Friedman cho rằng : “Trung Quốc và An Độ trước tiên sẽ tập trung giải quyết các vấn đề của họ bằng cách khai thác lao động giá rẽ, công nghệ cao, sức sáng tạo và tư duy lại về tương lai của chính họ. Sau đó, họ sẽ tập trung đối phó với chính nước Mỹ. Nước Mỹ phải chuẫn bị về con người, rất nhiều người để làm những việc tương tự. Đây là hồi chuông báo động cuối cùng đối với nước Mỹ “.

Một thế giới phẳng có vẻ là cơ hội phát triển cho bất cứ một quốc gia nào, một xã hội nào, một doanh nghiệp nào và một cá nhân nào thích nghi được với môi trường phẳng của thế giới và biết cách ứng xử hợp lý , tức là tranh thủ vươn lên trên các ngọn sóng làm phẳng của nó bằng cách sử dụng tốt nhất các công cụ mà nó đã tạo ra . Bằng những luận cứ của mình , Friedman mong muốn trình hiện một thế giới phẳng theo cách nhìn của ông , trong đó sự hợp tác giữa các cá nhân trên toàn thế giới trong việc sử dụng một cách công bằng và với hiệu quả tối ưu mọi nguồn lực của hành tinh sẽ là động lực từ nay về sau cho sự tiến bộ của toàn nhân loại mà không cần đến sự can thiệp , định hướng của các tôn giáo , các học thuyết chính trị, các chính phủ hay thậm chí các công ty , dù đó là công ty siêu quốc gia. Các công ty trong tương lai sẽ là một tập hợp phẳng của những cá nhân có năng lực sáng tạo riêng , hành xử một cách đúng đắn và có trách nhiệm các công việc thuộc chức năng được phân công cho mình với một hiệu quả hơn hẳn.

Thế giới là phẳng trong ý nghĩa sự bùng nổ công nghệ ở bất cứ nơi nào trên hành tinh cũng được nhanh chóng tiếp thu và ứng dụng tại một nơi xa xăm, và sự cung ứng các sản phẩm tốt hơn với giá thành rẻ hơn phát xuất từ công nghệ mới đó có thể được thực hiện tại bất cứ đâu để phục vụ nhu cầu ở những nơi xa xăm khác. Khái niệm khoảng cách không còn ý nghĩa, thế giới sẽ trở nên siêu nhỏ theo cách nhìn của Friedman.

Tuy nhiên, đó là một thế giới phẳng có điều kiện .Thế giới của Friedman phẳng nhờ những tiến bộ công nghệ , đặc biệt là công nghệ thông tin và , một mặt nào đó , về sự phân công lao động rộng rãi xuyên quốc gia đang xảy ra trên toàn cầu . Điều kiện của nó là sự tự do chuyển giao , tiếp thu và ứng dụng công nghệ mới cũng như sự công bằng cần thiết trong phân công lao động toàn cầu . Tuy nhiên, đây không phải là những điều kiện dễ dàng có được trong một thế giới không phẳng về các giá trị triết học, đạo đức , văn hoá và thẩm mỹ , về lợi ích của quốc gia và của các nhóm quyền lợi siêu quốc gia và trên hết về cách nhìn của mỗi chúng ta về chính thế giới mà chúng ta đang sống. Điều hiển nhiên là mỗi người chỉ thấy thế giới theo cách nhìn của riêng mình .Thế giới chỉ là một sự trình hiện chủ quan dưới mắt của một chủ thể , nó không có tính khách quan, vì cả chủ thể và thế giới đều không có tự tính , như nhận thức của đại sư Long Thọ trong Trung Quán luận . Thế giới dưới mắt của Friedman là phẳng, nhưng dưới mắt của nhiều người khác, thế giới là không phẳng , tuy rằng những người này cũng tiếp cận được tất cả những công cụ mới, những công nghệ mới đang làm phẳng thế giới như Friedman đã nêu . Với Bin Laden và những học trò cuồng tín của ông ta, thế giới này không thể được làm phẳng . Ong ta thà cho nổ tung thế giới hơn là thấy nó bị san phẳng theo ý đồ của người Mỹ. Đối với những ai khác có tầm nhìn thực tế hơn , điều quan trọng không phải là tìm xem thế giới này phẳng hay không phẳng. Điều quan trọng là quan điểm và lập luận của Friedman về một thế giới phẳng có thể cung cấp một “ cẩm nang “ hành động thích hợp giúp cho những quốc gia, những doanh nghiệp , những cá nhân biết vận dụng tốt lời khuyên của ông đạt đến thành công trong kỷ nguyên toàn cầu hoá đầy khó khăn thách thức hiện nay , và từ nay về sau , trên con đường đi đến thịnh vượng của ho.

Phần II : Các Nước Đang Phát Triển Phải Làm Gì Trong Một Thế Giới Phẳng?

Friedman gọi kỷ nguyên toàn cầu hoá hiện nay là “ Toàn cầu hoá 3.0 “. Nó tạo ra một động lực mới cho phép các cá nhân trên khắp thế giới cọng tác và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu . Trong điều kiện đó, ông cho rằng các nước đang phát triển muốn thành công phải biết nhìn lại mình để có một đánh giá trung thực và đúng mức . Ông nói : “ Một đất nước, cũng như người dân và giới lãnh đạo cần phải thẳng thắn với chính bản thân họ, phải nhìn nhận rõ ràng và chính xác họ đang ở đâu trong tương quan với các nước khác và trong mối quan hệ với mười nhân tố làm phẳng. Họ cần phải tự hỏi : Đất nước của tôi có thể tiến đến đâu hoặc bị bỏ xa như thế nào trong quá trình làm phẳng của thế giới, và có thể thích ứng và khai thác những lợi thế của hệ thống thế giới phẳng đến mức nào trong quá trình hợp tác và cạnh tranh ?”

Đây chính là những vấn nạn chủ chốt của những cộng đồng dân tộc đang có hoài bão tiến bộ, không chấp nhận tình trạng tụt hậu của đất nước . Đối với những vấn nạn này, Friedman đã cung cấp những lời giải thoả đáng . Ong cho rằng một chiến lược phát triển quốc gia đúng đắn cần tập trung vào 3 yếu tố cơ bản để thực hiện được một sự đổi mới mà ông gọi là đổi mới theo chiều sâu .

Thứ nhất, xây dựng một cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt , từ băng thông Internet đến điện thoại di động giá rẻ, sân bay và đường sá hiện đại …. và một cơ chế hỗ trợ và khuyến khích tích cực nhằm cho phép sự tiếp cận dễ dàng của công chúng với các phương tiện hạ tầng này để tạo nên sự kết nối ngày càng nhiều giữa các tổ chức và công dân của quốc gia với nền tảng thế giới phẳng. Xây dựng một cơ sở hạ tầng kỷ thuật tốt không phải là việc quá khó, nhưng thiết lập một cơ chế khuyến khích hỗ trợ người dân tiếp cận các cơ sở kỷ thuật này một cách thông thoáng , cởi mở, với giá rẽ lại không phải là điều dễ dàng. Nó đòi hỏi các nhà lãnh đạo đất nước thấu hiểu và tin vào một thế giới phẳng và cho phép mọi sự diễn ra phù hợp với tiến trình đó.

Thứ hai, xây dựng một nền giáo dục tiên tiến , ngang tầm với các tiêu chuẫn của thế giới nhằm đào tạo ngày càng nhiều người có tư duy sáng tạo , có kỷ năng đầy đủ để có thể làm việc trong hệ thống thế giới phẳng , tương tự trường hợp các chuyên viên kế toán người Anh có thể khai thuế cho các doanh nghiệp Mỹ . Friedman nêu trường hợp thành công của Ireland trong việc tiến hành đổi mới ngành giáo dục của mình theo chiều sâu , đào tạo được một lực lượng đông đảo nhân tài trong nước đồng thời có chính sách thu hút nhân tài từ các nơi đổ về Ireland . Nhờ vậy , đất nước này đã trở thành quốc gia giàu có nhất của Liên Minh Châu Au, chỉ sau Luxembourg.

Thứ ba, tổ chức việc quản trị vĩ mô tốt , từ việc xây dựng một hệ thống quản lý hành chánh trong sạch, hiệu quả , một hệ thống pháp luật công bằng và dễ hiểu theo chuẫn mực thế giới , một chính sách tiền tệ và tài chánh thích hợp , đúng đắn có thể hỗ trợ một cách hữu hiệu nhất cho các doanh nghiệp và công dân của mình , giúp họ làm việc với năng suất cao nhất trong thế giới phẳng . Ông trích dẫn báo cáo của IFC ( Công Ty Tài Chánh Quốc tế thuộc Ngân hàng Thế Giới ) so sánh cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp giữa các nước : “ Mất 2 ngày để mở 1 công ty ở Australia, 203 ngày ở Haiti và 215 ngày ở Cộng hoà Dân chủ Congo. Không mất tiền để mở 1 công ty mới ở Đan mạch, nhưng ở Campuchia phải mất số tiền bằng 5 lần thu nhập bình quân đầu người và ở Sierra Leone là hơn 13 lần. Hồng Kông, Singapore và Thái Lan và hơn 30 nền kinh tế khác không đòi hỏi công ty mới phải có vốn ban đầu. Ngược lại, luật pháp ở Syria yêu cầu vốn tương đương 56 lần thu nhập bình quân đầu người… “

Friedman còn lưu ý về một sai lầm thướng mắc phải trong chiến lược phát triển kinh tế ở nhiều nước đang phát triển : vì mục tiêu giải quyết công ăn việc làm , giảm tỷ lệ thất nghiệp, nhiều nước đã duy trì một khu vực doanh nghiệp quốc doanh lớn, sử dụng nhiều lao động nhưng làm việc với mức lương thấp và năng suất lao động kém . Hậu quả là đầu tư không hiệu quả, nợ nần chồng chất , nền kinh tế quốc gia bị hao hụt tài nguyên, hao tỗn nội lực và mất đi năng lực cạnh tranh cần thiết . Friedman cho rằng giải quyết công ăn việc làm không phải là mục tiêu duy nhất mà các quốc gia phải nhắm tới và cũng không quá khó để họ đạt được , nhưng tăng năng suất và hiệu quả lao động để tăng thu nhập cho người lao động và tăng cường lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp và của quốc gia mới là mục tiêu thiết yếu có tính chất sinh tử hơn .Ong nhấn mạnh “ thay vì bảo vệ công ăn việc làm trong các dây chuyền sản xuất với giá rẻ, nên chú trọng vào việc tạo ra các việc làm có giá trị gia tăng cao. “ Cạnh tranh bằng nhân công giá rẽ không phải là một sự cạnh tranh tốt và cũng không phải là một chiến lược tốt trong lâu dài . Hiện nay, Trung Quốc đang lập ra một mức sàn cho toàn cầu không chỉ về lương thấp, mà cả về luật lao động lỏng lẻo, và các tiêu chuẫn làm việc thấp. Đó là điều mà các nhà phân tích kinh tế gọi là “ Giá Trung Quốc “và điều đó đang trở thành một tiêu chuẫn ảo về lợi thế cạnh tranh đang làm lạc hướng các nước đang phát triển . “ Điều đáng sợ là Trung Quốc không thu hút nhiều đầu tư toàn cầu chỉ bằng việc chạy đua với mọi người xuống mức đáy. Đây chỉ là một sách lược ngắn hạn. Trung Quốc cũng thực sự chú trọng đến việc cải tiến chất lượng và tăng năng suất “. Ở điểm này , họ đang bỏ xa các nước đang phát triển khác .

Nền văn hoá của một dân tộc cũng là yếu tố quan trọng quyết định sự thích nghi của quốc gia với xu thế đổi mới theo chiều sâu của mô hình thế giới phẳng. Friedman viện dẫn lập luận của nhà kinh tế học David Landes trong quyển The Wealth and Poverty of Nations ( Sự giàu có và nghèo khó của những quốc gia ) cho rằng nhân tố chủ chốt cho sự tiến bộ công nghiệp hoá của mỗi quốc gia là “ tiềm năng văn hoá của đất nước, đặc biệt là khả năng đất nước đó tiếp nhận các giá trị lao động cần cù, tiết kiệm, trung thực , kiên trì và nhẫn nại, cũng như khả năng mở cửa đổi mới, tiếp thu công nghệ mới và bảo đảm quyền bình đẳng cho phụ nữ ”. “ Friedman cũng dẫn lời của Jerry Rao , người An, Tổng giám đốc điều hành của MphasiS , cho rằng “các nền văn hoá mở và sẵn sàng thay đổi có lợi thế lớn trong thế giới này”. Trong kỷ nguyên toàn cầu hoá , đã có nhiều quốc gia chọn lựa sách lược mở cửa về kinh tế nhưng đóng cửa về văn hoá để giữ cái mà họ cho rằng bản sắc văn hoá của dân tộc . Nhưng sự đóng cửa về mặt văn hoá , “ thiếu tin tưởng vào những người lạ “, lại luôn luôn trở thành một bức tường khó vượt , ( tạo ra một phí tỗn lớn về thời gian và tiền bạc ) trên con đường tiếp nhận đầu tư, tiếp thu công nghệ và hợp tác làm ăn với các nước khác. Điều đó rất nguy hiểm vì nó sẽ dẫn đến sự thất bại của quốc gia trong một thế giới phẳng . Trong bài viết về “ Bản Sắc và Toàn cầu Hoá “ ( Doanh Nhân Cuối Tuần số 160, 18/8/2006 ), giáo sư Cao Huy Thuần đã nhận định “ Một nền văn hoá co cụm là một nền văn hoá yếu, biết trước mình sẽ thua “. Do đó, cách xử lý khôn ngoan hay không về văn hoá của mỗi cộng đồng dân tộc trong một thế giới phẳng sẽ quyết định trong tương lai vị trí của họ trên nấc thang thịnh vượng của toàn hành tinh. John Rose, Giám đốc điều hành Công ty Rolls Royce nhận định rằng : “ Trong thế giới phẳng, chúng ta sẽ càng ít đề cập về “ các quốc gia phát triển, đang phát triển và kém phát triển “ mà nói nhiều hơn đến “ các quốc gia thông minh, thông minh hơn và thông minh nhất “.
Cuối cùng, chúng ta hãy nghe lời khuyên quan trọng của Friedman đối với Mexico một nước đang mong muốn giành chiến thắng trong một thế giơi phẳng . Ông nói đến ý chi vô hình và sự tự tin . Mexico muốn thành công phải tự tin , ông nhắc lại lời của Luis Rubio, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển của Mexico : “ càng tự tin thì mặc cảm của bạn càng giảm “ , còn “ thiếu tự tin sẽ đưa một đất nước đến chỗ chỉ biết ngồi nhấm nháp quá khứ của mình”. Và ý chí mong muốn chiến thắng có ý nghĩa rất quyết định . “Nếu Mexico muốn phồn vinh phải có chiến lược đổi mới theo chiều sâu có khả năng đánh bại Trung Quốc ở bậc cao nhất , chứ không phải ở bậc thấp, vì Trung Quốc không chú trọng vào việc đánh bại Mexico bằng đánh bại Mỹ” . Phải luôn nhớ rằng “ Trung Quốc không chỉ muốn làm giàu, Trung Quốc còn muốn hùng mạnh. Trung Quốc không chỉ muốn học cách làm ra những chiếc ô tô của hãng GM ( General Motors ),Trung Quốc còn muốn trở thành GM và đánh bật GM ra khỏi thị trường. “ Trên đây là những lời khuyên mà Friedman bảo là dành cho Mexico, nhưng thật ra nó có giá trị với nhiều nước đang phát triển khác.

Huỳnh Bửu Sơn
(Doanh Nhân Sài Gòn cuối tuần)

Link download: (PDF, ePub, mobi, prc)

http://www.taisachhay.com/2015/08/the-gioi-phang.html

Book

Kinh tế học hài hước (Freakonomics) – Steven D. Levitt, Stephen J. Dubner

Nói đến kinh tế học, người ta thường coi đây là một ngành khoa học ít nhiều khá khô khan, thường liên quan đến các con số, các khuôn mẫu hay chỉ đơn thuần là tiền bạc, tài chính. Ngay cả những người được giải Nobel kinh tế cũng ít khi được dư luận quan tâm như những người được giải Nobel Hoà bình, văn học hay vật lý. Kinh tế học dường như là một ngành khoa học quá hàn lâm, quá phức tạp, quá xa với thế giới thực, một thừ gì đó mà người ta chỉ có thể quan sát từ xa chứ ít khi tham gia trực tiếp.

4221

Kinh Tế Học Hài Hước đã hình thành nên tiền đề bất tuân thủ quy ước thông thường. Nếu chuẩn mực thể hiện cách chúng ta muốn thế giới vận động thì kinh tế học thể hiện sự vận động thực chất của thế giới. Độc giả của cuốn sách này sẽ biết tới hàng loạt những thực tế đáng kinh ngạc và nhiều câu chuyện gấp dẫn và vui vẻ, một số có thể là tiền đề cho những nghiên cứu sâu hơn về xã hội, một số đơn giản chỉ là những chủ đề tán gẫu trong hàng vạn cuộc trà dư tửu hậu.

Nhưng Kinh Tế Học Hài Hước còn có thể mang tới cho độc giả nhiều hơn thế. Đó chính là cách xác định lại thế giới quan của chúng ta. Thế giới mà chúng ta đang sống chứa đầy những nhận định dựa trên những niềm tin ảo tưởng và sáo mòn được xây dựng theo thời gian. Có quá nhiều nỗ lực trí tuệ của chúng ta bị giới hạn trong những biên giới tư duy và khái niệm đã quá cũ kỹ và đi theo lối mòn truyền thống. Kinh tế học hài hước là một nguồn thông tin dồi dào, những phân tích đánh giá đầy sáng tạo, gợi cảm hứng, dí dỏm, hấp dẫn, có thể là tất cả những gì mỗi chúng ta cần để khởi dậy óc sáng tạo và cách tư duy hiện đại trong một thời đại tràn ngập thông tin ngày nay.”

Link download: (PDF, ePub, mobi, prc)

http://ebook.hoctroz.com/book_detail.php?bid=206

Book

Siêu Kinh Tế Học Hài Hước (Super Freakonomics) – Steven D. Levitt, Stephen J. Dubner

Kinh tế học hài hước – cuốn sách bán chạy nhất theo bình chọn của New York Times – với hơn 4 triệu bản được dịch ra 35 thứ tiếng, thực sự là cuộc cách mạng trong tư duy khiến bất cứ ai từng đọc qua cũng phải thay đổi cách nhìn nhận về thế giới xung quanh.

Giờ đây, Steven D. Levitt và Stephen J. Dubner cùng cuốn Siêu kinh tế học hài hước sẽ lại một lần nữa mở ra cho những độc giả quen thuộc cũng như lần đầu biết đến họ một cái nhìn mới sâu sắc hơn, dí dỏm hơn và cũng đầy ngạc nhiên hơn.

1454400452124_4233733

Siêu kinh tế học hài hước – BÙNG NỔ với những câu hỏi đáng suy ngẫm song không kém phần thú vị:

– Tại sao một cô gái đứng đường lại giống ông già Noel trong cửa hàng bách hóa?

– Làm thế nào để tóm dính một phần tử khủng bố?

– Giông bão, trụy tim và tai nạn giao thông giống nhau ở điểm gì?

– Lòng vị tha và sự vô cảm – thứ nào dễ kiểm soát hơn?

– Có thể cứu thế giới bằng việc ăn thịt một con kangaroo không?

Bằng những suy luận dí dỏm kết hợp với khả năng kể chuyện tài tình, Levitt và Dubner đã lần lượt giải đáp những khúc mắc cho các vấn đề như: sự nóng lên toàn cầu; vì sao mại dâm ngày nay lại rớt giá thê thảm hay tìm hiểu xem mọi người phản ứng ra sao khi bị kích động. Thế giới thông qua nhãn quan của các tác giả đầy hiện thực – có tốt, xấu, kỳ dị, và hơn hết là “siêu hài hước”.

 

Link download: (PDF, ePub, mobi, prc)

http://www.taisachhay.com/2015/08/sieu-kinh-te-hoc-hai-huoc.html